The density of the language barrier/ Chướng ngại ngôn ngữ
Editor’s note: This is the third article in a series. In the first article, Dr. Vo describes preparing for the trip; in the second article, he describes some of the challenges in teaching.
Cultural distance is the degree to which one culture differs or is similar to a reference culture. It depends on societal structure, values, and characteristics, but also upon language. Some language barriers are denser than others. The Romantic and Germanic languages share cognates and the Latin alphabet. However, parallel systems (e.g., tonal languages and abjad alphabets) are steeper barriers to communication. Language can be the key to unlocking a culture. It can be the difference between a mutual respect and perpetual mistrust. One of the most disabling things for non-native speakers can be a phenomenon known as loss of rhetorical skills. One is disarmed of the subtleties of speech such as humor, abstraction, intonation, sensitivity, persuasion, etc. Those who are capable, even eloquent, in their mother tongue experience developmental regression when reduced to infantile expressions and the communication of basic wants or needs.
Proficiency in the host country’s language will determine whether one teaches in the native language or uses an interpreter. There are advantages and disadvantages to both. Obviously, being able to communicate in the host country’s language gives the teacher more flexibility in the classroom and the opportunity to approach individuals. One is able to foster a relationship and get to know students. However, when speaking a second language, one is never certain how clearly the statement is expressed or received. Recipients will often nod or imply understanding out of politeness or to avoid embarrassment even when the meaning is not fully grasped. Further, one must be adept enough to convey medical ideas and jargon (another language in itself) with accuracy. Miscommunications in the health arena can lead to adverse events or undue morbidity and mortality.
Using a consecutive interpreter is also the proverbial double-edged sword. A good interpreter is fluent in both languages, able to remember the entirety of what is said, and convey it to the audience in a form that is not only faithful in content but also in attitude and tone. He or she must have knowledge of the subject matter being interpreted in order to give it context. Generally, it is felt that an interpreter should neither add nor detract from the speaker’s content. However, if your interpreter is someone versed in the topic and more familiar with the audience (my interpreter happened to be the chair of the anesthesiology department), it can be advantageous to have him or her edit your lecture, abridging things that are lost upon the audience while expounding upon subjects that are more relevant.
With either approach, the language barrier can disarm the teacher of his or her typical bag of tricks. Humor and jokes can often fall flat. A teacher’s enthusiasm can be attenuated by the process of translation and interpretation. While variation of tone and dynamics can help to draw in a Western audience, it can confuse an audience who uses tone and inflection for discriminating words. International learners may feel uncomfortable or shy when confronted by the Socratic method. The “chalk talk” synergy of action and explanation can become muddled when saddled with the lag time of interpretation. Ultimately, some topics are easier to teach than others. Lectures are not ideal platforms for formulas, data, and facts to be memorized. The logical is much easier to teach than the highly technical. While these types of information are still important, they may be better comprehended when presented as handouts or appendices.
Good PowerPoint technique can prove helpful and the principles of good PowerPoint only become more important in a foreign language. Slides should not be projected versions of books. Assailing an audience with sheets of text, particularly in a language they are unfamiliar with, is an exercise in futility. If the opportunity exists, one should participate in staff meetings or grand rounds at the host hospital. If they are conducted in the native language, take note of what is most helpful in following the discussion. Likely it will be (in ascending order) shared words (cognates and anatomical/drug names), images (x-rays or diagrams), or text in one’s native or shared language. Enduring slides of unintelligible text and commentary quickly leads to mind wandering and loss of interest.
One should try to conceptualize diagrams or figures which summarize the text. Typically, clip art and uninformative photographs ought to be avoided, but in this instance they may help to suggest or reinforce the topic of your slide. Not all information will be compatible with visual summarization. When text cannot be avoided, slides should be bilingual. Headers should be translated, and the 2-column slide layout can be used to juxtapose the two languages (see the example). With essentially twice the information per slide, each slide must consist of the distillation of key ideas in order to avoid clutter. The additional features of PowerPoint must be used judiciously and only to promote understanding. Abusing the bells and whistles is ill advised. However, at the same time animations can progress slides as a concept and develop them in a graded fashion. Similarly, videos can be used to circumvent the language barrier and to maintain interest. Finally, layering slides with images and text that appears after clicks allows one to move fluidly between text, translations, and images. It is certainly possible to invest too much time developing one presentation, but proficiency with PowerPoint comes with practice.
Khoảng cách văn hóa là mức độ khác biệt hay tương đồng của một nền văn hóa so đọ với nền văn hóa đối chiếu. Nó tùy thuộc vào kiến trúc xã hội, bậc thang giá trị và những tính chất đặc thù nhưng cũng còn tùy thuộc vào ngôn ngữ. Có những bức tường ngôn ngữ dày đặc hơn ngôn ngữ khác. Một số ngôn ngữ Phương Tây chia sẻ ý nghĩa và mẫu tự Latinh. Tuy nhiên, đi đôi với các ngôn ngữ nầy còn có những hệ thống (như ngôn ngữ độc âm và chữ viết tượng hình) khó trao đổi thông tin với nhau hơn. Ngôn ngữ có thể là chìa khóa mở cửa văn hóa. Nó có thể là sự khác biệt giữa niềm kính trọng lẫn nhau và mối nghi kỵ muôn đời. Một trong những thứ thường gây nạn bất lực cho những người không nói tiếng bản xứ là hiện tượng gọi là mất khả năng hùng biện. Người ta bị tước đoạt khả năng sử dụng những cái tinh tế của ngôn ngữ: khôi hài, trừu tượng, ngữ điệu, truyền cảm, thuyết phục, vân vân. Những người từng ăn nói lưu loát hoặc có tài hùng biện bằng tiếng mẹ đẻ đâm ra mắc bệnh thoái hóa khi bó buộc phải nói từng chữ, từng câu như trẻ con để bày tỏ ước muốn hay nhu cầu của mình.
Quyết định giảng dạy bằng tiếng bản xứ hay dùng thông dịch viên tùy mức độ thành thạo của người dạy. Cả hai đều có cái lợi và cái bất lợi. Hiển nhiên, khả năng nói được tiếng bản xứ giúp người dạy có được sự linh hoạt trong lớp học và cơ hội tiếp xúc riêng với học viên. Người thầy có thể gây thân tình và hiểu rõ học viên. Tuy nhiên, khi dùng ngôn ngữ thứ hai người nói không bao giờ biết chắc mình diễn tả đúng mức và người nghe hiểu hết ý của mình không. Người nghe thường gật đầu tỏ ý hiểu vì phép lịch sự hay vì muốn tránh ngượng ngùng ngay cả khi họ chưa hiểu được tận tường. Hơn nữa, ta phải khôn khéo dùng những từ thông dụng để giải thích một cách thỏa đáng những khái niệm và thuật ngữ y khoa vì thuật ngữ y khoa tự nó đã là một ngôn ngữ. Những hiểu lầm trong địa hạt y tế có thể dẫn đến sự kiện bất lợi hoặc gây ra bệnh trạng đáng tiếc.
Dùng một người thông dịch trong suốt khóa học cũng có thể là con dao hai lưỡi. Một thông dịch viên giỏi phải thông thạo cả hai ngôn ngữ, có khả năng nhớ toàn thể câu nói và trung thực chuyển đạt tới thính giả chẳng những ý nghĩa câu nói mà cả thái độ và giọng điệu của người nói. Thông dịch viên phải có kiến thức về chủ đề mình thông dịch để chọn từ hợp chủ đề. Thông thường người ta nghĩ rằng thông dịch viên dịch sát ý diễn giả chứ không nên thêm hay bớt. Tuy nhiên, một người thông dịch thông suốt đề tài và quen thuộc với thính giả (tôi may mắn được vị Trưởng Khoa Gây Mê làm thông dịch viên) giảng viên có thể nhờ họ chỉnh sửa bài cho mình, cắt bớt những chỗ làm người nghe nhàm chán và triển khai những đề mục thích đáng.
Với cả hai phương thức, chướng ngại ngôn ngữ đều có thể cướp mất túi dụng cụ điển hình của nhà giáo. Khôi hài và kể chuyện chọc cười thường không được hưởng ứng. Sức nồng nhiệt của nhà giáo bị suy giảm qua quá trình thông dịch. Thay giọng bổng trầm và nói nhỏ to có thể thu hút sự chú ý của thính giả Tây phương, nhưng nó có thể gây hiểu lầm với thính giả có ngôn ngữ mà mỗi từ có nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào âm thanh và giai điệu. Học viên quốc tế có thể khó chịu hoặc ngượng ngùng khi phải đối diện với phương pháp học tập bằng đối thoại của triết gia Socrates. Phương pháp “thuyết trình bảng phấn” rộn ràng tay viết miệng nói có thể trở nên rối mù khi phải chờ thông dịch. Sau cùng, đề tài giảng dạy có cái khó mà cũng có cái dễ. Thuyết trình không phải là phương pháp lý tưởng để dạy về công thức, dữ liệu và sự kiện là những môn phải học thuộc lòng. Những đề tài có cấu kết hợp lý dễ dạy hơn bài học kỹ thuật cao cấp. Mặc dầu các loại thông tin nầy quan trọng, chúng có thể được hiểu tận tường hơn bằng tài liệu phát tay hay phụ lục.
Phương pháp Power Point tốt có thể áp dụng hữu hiệu cho việc giảng huấn. Những nguyên tắc của Power Point tốt trở nên quan trọng hơn trong ngoại ngữ. Không nên dùng slide như là bản phóng chiếu của cuốn sách. Tấn công thính giả bằng những trang sách mà họ không đọc được không ích lợi gì cả. Nếu có dịp, ta nên tham dự những buổi họp nhân viên hay những cuộc đi thăm bệnh nhân trong bệnh viện chủ. Nếu họ nói tiếng bản xứ, bạn nên ghi nhận những gì hữu ích nhất khi theo dõi cuộc thảo luận. Rất có thể bạn sẽ có những kinh nghiệm theo trình tự từ cao xuống thấp sau đây: bạn có cảm tưởng thân cận với họ vì bạn hiểu được một số từ họ nói, những tên gọi các thành phần cơ thể, các hiệu dược phẩm, hình ảnh quang tuyến X hay biểu đồ hoặc văn bản bằng ngôn ngữ của bạn hay bằng ngoại ngữ mà bạn biết. Sau khi người ta chiếu slides chú thích và giảng giải khá lâu mà mình chẳng hiểu gì, bạn xao lãng và không buồn để ý tới nữa.
Bạn nên cố gắng làm biểu đồ hay đồ thị để tóm lược bài thuyết trình. Thông thường nên tránh dùng clipart và phóng ảnh nhưng trong trường hợp nầy chúng có thể giúp gợi ý hay củng cố chủ đề của slide. Có những thông tin không cho phép tóm tắt bằng biểu thị. Trong trường hợp phải dùng slide chiếu văn bản, ta nên dùng cả hai ngôn ngữ. Nên dịch đầu đề và thân bài nên chia thành hai cột đối chiếu hai bản văn song ngữ. Với một slide chứa hai thông tin, mỗi slide phải gạn lọc những ý chính để tránh rườm rà. Những tính năng khác của Power Point phải được sử dụng một cách khôn khéo nhằm mục tiêu duy nhất là nâng cao tri thức mà thôi. Ta không nên lạm dụng những tính năng chỉ nhằm rung chuông đánh trống ồn ào. Tuy nhiên, thuật hoạt họa có thể được áp dụng để triển khai một khái niệm. Videos có thể được sử dụng để phá vỡ bức tường ngôn ngữ và duy trì sự chú tâm. Kỹ thuật sắp xếp xen kẽ slide hình và văn bản nối tiếp tuần tự sau mỗi cái bấm giúp người thuyết trình lưu loát lướt đi từ văn bản qua bản dịch đến hình ảnh. Việc soạn thảo cho một bài thuyết trình sử dụng Power Point có thể mất nhiều thời gian, nhưng thực tập lâu dài sẽ giúp bạn thành thạo hơn.

